[Trao đổi – Thảo luận] Hiệp định TPP và nền công nghiệp ôtô Việt Nam (phần I)

Cách đây khoảng hơn một tháng, sau khi có quyết định về việc hoàn tất thương thảo TPP, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, người tiêu dùng Việt đã tràn trề xúc cảm, hy vọng mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng đối với nền kinh tế trong nước đồng thời tin tưởng vào viễn cảnh được tiếp cận các mặt hàng ngoại nhập với mức giá thấp. Và ôtô là một trong những mặt hàng được người tiêu dùng kỳ vọng giảm giá nhất.

Giấc mơ của người Việt
Ôtô – Made in VietNam – Giấc mơ của người Việt

Vì sao thì chắc ai cũng có thể dễ dàng đoán ra được. Sau khoảng 30 năm mở cửa nền kinh tế, chiếc xe ôtô vẫn là một món hàng xa xỉ với người dân Việt Nam. Điều này càng trở nên đúng hơn khi xét tới thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam (GDP) : cụ thể giá xe ôtô ở Việt Nam đắt gấp 2,5 lần so với Mỹ trong khi thu nhập, vào năm 2013 chẳng hạn, của người Việt chỉ là 1.960 USD trong khi Mỹ là 50.708 USD.

Riêng điều đó để thấy rằng, không như ở các xã hội phát triển, chiếc xe ôtô hầu như chỉ đóng vai trò là 1 phương tiện di chuyển thì ở Việt Nam nó đã dần trở thành thước đo về sự thành công trong cuộc sống. Bạn thành công, bạn phải có ôtô riêng.

Cộng với việc hy vọng về một chiếc xe ôtô “Made in Vietnam” đã gần như không cò hay thoi thóp, người dân Việt Nam có lẽ thực sự chỉ còn có thể nhờ tới TPP để mong được sở hữu những chiếc xe ôtô mơ ước của mình.

Việc ký kết thành công TPP, thuế nhập khẩu giữa các quốc gia trong hiệp định sẽ được đưa về 0%, viễn cảnh về một ngày người dân Việt Nam có thể mua những chiếc xe Nhật, Mỹ với giá hợp lý hơn nhiều mà chất lượng lại cao hơn những chiếc xe lắp ráp trong nước làm rất nhiều người Việt Nam ngóng chờ.

Tuy nhiên, có thực sự TPP là câu trả lời cho việc giảm giá xe ôtô ở Việt Nam ? quan trọng hơn liệu TPP có thực sự sẽ đặt dấu chấm hết cho “ngành công nghiệp ôtô” nước nhà ?

Trước hết, trong phần I của loạt bài này, mình thấy cần phải làm rõ 1 điều, theo mình nghĩ, cái gọi là “ngành công nghiệp ôtô” của Việt Nam thực sự đến giờ vẫn không hề tồn tại. Cũng đã gần một phần tư thế kỷ, Chính Phủ có những chính sách đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô nhằm hướng tới mục đích có 1 chiếc xe Made in Vietnam giá rẻ cho người Việt. Nhưng nhìn lại 25 năm phát triển, vì nhiều nguyên nhân mà đến giờ vẫn không thấy bóng dáng của chiếc xe đó đâu. Có thể kể đến một vài nguyên nhân chính sau :

Vinamotor
Vinamotor thúc thủ ngay tại sân nhà là thị trường ôtô Việt Nam

Thứ nhất, việc các doanh nghiệp quốc doanh đảm nhận vai trò chủ chốt của ngành công nghiệp ôtô là điều không hoàn toàn hợp lý. Vì đây là những mô hình không có sức sống, không có sức cạnh tranh và rất chậm chạp trong một nền kinh tế thị trường hiện đại luôn biến đổi. Do vậy, cùng với thời gian, các doanh nghiệp này dần hụt hơi thậm chí rút lui hoàn toàn và chỉ để lại một con số không tròn trĩnh trong công nghiệp ôtô nước nhà. Bằng chứng rõ ràng nhất cho thất bại đau đớn này là khi mới đây sau khi Chính phủ đã quyết định thoái toàn bộ 97% số cổ phần nhà nước ra khỏi Tổng Công ty công nghiệp ôtô Việt Nam- Vinamotor. Đây quả thực là dấu chấm hết cho các doanh nghiệp quốc doanh trong tất cả các lĩnh vực.

Thứ hai, về vấn đề bảo hộ và hỗ trợ của nhà nước cho ngành công nghiệp ôtô, cụ thể là hướng tới các doanh nghiệp tư nhân. Có thể thấy ngay là cho đến giờ, nhà nước vẫn chỉ dừng lại ở những chính sách bảo hộ hay ưu đãi về thuế. Những chính sách bảo hộ thì thường được soạn thảo bởi nhiều Bộ, Ban, Ngành khác nhau, dẫn đến luôn mâu thuẫn với nhau: Bộ Công thương muốn hỗ trợ sản xuất ôtô bằng các chính sách bảo hộ nhưng Bộ Giao thông Vận tải lại muốn giảm thiểu tai nạn giao thông và quá tải hệ thống đường bộ bằng việc hạn chế sự lưu hành ôtô bằng cách đánh thuế mặt hàng ôtô, tương tự là Bộ Tài chính nhằm muốn đảm bảo mức thu thuế từ ôtô. Đó có thể là những quy định khác nhau từ năm này sang năm khác của ngay một Bộ.

Giấc mơ ôtô Việt của Vinaxuki dang dở cũng vì thiếu vốn
Giấc mơ ôtô Việt của Vinaxuki dang dở cũng vì thiếu vốn

Ngoài ra, những chính sách bảo hộ và ưu đãi thuế này, mà nếu nhìn rộng ra thì gần như khá vô hại khi đặt trong khuôn khổ những hiệp định kinh tế mà Việt Nam đã và đang rất hăng hái tham gia, thậm chí còn phản tác dụng khi các doanh nghiệp (phần lớn là quốc doanh) đã quen với nguồn sữa vô hạn từ Nhà Nước nên không có sức cạnh tranh nay phải đứng lên cạnh tranh sòng phẳng với các ông lớn Thế Giới, thì giới doanh nghiệp nhìn chung vẫn hằng ngày phải đối mặt với những câu hỏi rất cơ bản ví dụ như lấy đâu ra vốn để duy trì hoạt động hay phát triển 1 sản phẩm nhưng đến giờ vẫn chưa thể có câu trả lợi rõ ràng. Về lý thuyết, doanh nghiệp và cá nhân có thể vay được một khoản ưu đãi nào đó và sẽ phải chịu trách nhiệm về khoản vay đó. Nhưng có vay được hay không thì lại là một vấn đề khác. Điển hình là trường hợp của Vinaxuki khi doanh nghiệp này đã không thể vay nổi dù mấy trăm triệu để hoàn thành mẫu xe con của mình và đưa ra thị trường.

Quy mô thị trường vẫn quá nhỏ, chưa cho phép các nhà máy sản xuất đạt hiệu quả công nghiệp cao
Quy mô thị trường vẫn quá nhỏ, chưa cho phép các nhà máy sản xuất đạt hiệu quả công nghiệp cao

Thứ ba, quy mô thị trường của nước ta quá nhỏ để có thể có các nhà máy công nghiệp hoạt động cụ thể, ở đây bao gồm cả các nhà máy sản xuất ô tô và các nhà máy thuộc công nghiệp phụ trợ. Cụ thể, tuy đất nước ta có đến 90 triệu dân, nhưng thực sự, số xe bán ra mỗi năm lại chỉ rơi vào tầm 100.000-150.000 xe (năm vừa rồi là năm có số xe bán ra cao nhất đạt 200.000 xe so với Thái Lan là 2.000.000 xe).  Đây là điều ngăn cản các hãng xe lớn đầu tư nhà máy sản xuất tại Việt Nam mà thay vào đó họ sẽ nhập xe từ các thị trường hàng xóm như Thái Lan và Indonesia. Kéo theo, hệ luỵ là các nhà máy công nghiệp phụ trợ của Việt Nam không có khách hàng đặt mua số lượng đủ lớn để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng.

Tệ hơn thế, điều thứ tư, nền kinh tế nước ta vẫn chưa phải là nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, điều không cho phép các lợi thế của Việt Nam có thể phát huy hết sức của mình. Cụ thể, chúng ta chưa cải tổ nền kinh tế triệt để theo cơ chế thị trường. Mà muốn phát triển sản xuất công nghiệp một sản phẩm nào đó, như ôtô chẳng hạn, cần đảm bảo phải có thị trường đủ lớn và có doanh nghiệp tư nhân đảm nhận việc thực hiện nhiệm vụ đó. Chính vì rào cản chính yếu này mà cho đến giờ, công nghiệp ôtô Việt Nam vẫn dẫm chân tại chỗ . Và kết quả phát triển công nghiệp ôtô ở đây cho thấy một cung cách phát triển khá là lạ lùng của nền kinh tế nước nhà, cái mà bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế thực tiễn nổi tiếng của Việt Nam, đã khẳng định, một cách vui vẻ, hồi trong tháng, rằng chúng ta là một nền kinh tế không muốn phát triển.

Trong phần tiếp theo, mình sẽ nêu tiếp ý kiến về ảnh hưởng của hiệp định TPP lên nền công nghiệp ôtô Việt Nam và viễn cảnh giảm giá ôtô liệu có thật sự tồn tại.

Tuy nhiên, mình cũng muốn được nghe và tham khảo ý kiến của mọi người về vấn đề này. Mọi người có thể để lại comment bên dưới để cùng nhau tham gia trao đổi và thảo luận. Mình cám ơn.

Tube 

Bài viết có ý kiến cá nhân của tác giả cùng một số ý kiến tham khảo trên các trang báo khác.

[Trao đổi – Thảo luận] Hiệp định TPP và nền công nghiệp ôtô Việt Nam (phần I)
5 3 votes